Thursday, February 10, 2005

Vấn đề phát triển và sử dụng nhiên liệu sinh học - biofuels


Nhiên liệu sinh học (Biofuels) là nhiên liệu tái tạo, được pha chế từ nguyên liệu có nguồn gốc sinh học như cồn etanol, dầu mỡ động thực vật biến tính hóa học để sử dụng thay thế xăng, điêzen dầu mỏ. Nhiên liệu sinh học gồm có các loại như:

- Xăng sinh học (gasohol): thông thường được pha chế từ 10 - 25% etanol khan với xăng chưng cất từ dầu mỏ không có phụ gia để đạt trị số octan 90, 95, 97... và có tính chất lý hóa tương đương xăng thương phẩm dầu mỏ. Chúng được sử dụng cho động cơ xăng truyền thống mà không phải hoán cải động cơ.

- E - diesel (diesohol) được pha chế từ 5 - 15% etanol với điêzen dầu mỏ số 2 để có trị số octan trên 45 và các tinh chất hóa lý tương đương điêzen thương phẩm dầu mỏ, để sử dụng cho động cơ điêzen truyền thống.

- Điêzen sinh học (bio diesel) được pha chế hoàn toàn từ một số loại dầu mỡ động thực vật tinh chế hoặc biến tính, sử dụng cho động cơ điêzen nhưng phải thay đổi vòi phun nhiên liệu

- B 20 là điêzen được pha chế từ 20% điêzen sinh học với 80% điêzen dầu mỏ, sử dụng cho động cơ điêzen mà không cần phải hoán cải động cơ.

Để đảm bảo an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế trong vài thập kỷ qua đã tập trung nghiên cứu và sử dụng nhiên liệu sinh học thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch, tiến tới xây dựng một ngành nhiên liệu sạch ở quốc gia mình. Các nước đã thành công trong nghiên cứu và sử dụng nhiên liệu sinh học ở châu Mỹ là Mỹ, Canađa, Braxin, Mêhicô; ở Châu âu có Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, áo..; ở châu Á có Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản... Hiện nay, có nhiều nước đang đẩy nhanh chương trình nghiên cứu và sử dụng nhiên liệu sinh học và đã cam kết thực hiện nghị định Kyoto về cắt giảm khí nhà kính và đảm bảo an ninh năng lượng vào cuối thế kỷ này.

Các lợi ích khi sử dụng nhiên liệu sinh học là: giảm thiểu ô nhiễm môi trường vì nguyên liệu sử dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học là cồn và dầu mỡ động thực vật, không chứa các hợp chất thơm, hàm lượng lưu huỳnh cực thấp, không chứa chất độc hại. Nhiên liệu sinh học khi thải vào đất bị phân hủy sinh học cao gấp 4 lần so với nhiên liệu dầu mỏ và do đó giảm được rất nhiều tình trạng ô nhiễm nước ngầm.

Việc sử dụng nhiên liệu sinh học còn làm cân đối năng lượng (NL), giảm nhập khẩu bên ngoài, đảm bảo an ninh năng lượng trong tương lai vì nguồn nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu sạch không bao giờ cạn kiệt. Ngoài mục đích dùng thay xăng, điêzen dầu mỏ, nhiên liệu sinh học còn được dùng thay dầu FO để đốt lò công nghiệp và sử dụng trong dân dụng thuận lợi.

Bên cạnh đó, việc sử dụng nhiên liệu sinh học sẽ tạo điều kiện phát triển nông nghiệp một cách có hiệu quả. ở những nước có điều kiện trồng trọt, có dư thừa đất đai (ở vùng trung du, miền núi) có thể trồng mía, sắn và các cây có dầu.

ở nước ta, theo đánh giá của các chuyên gia năng lượng, đến năm 2010 khả năng khai thác các nguồn năng lượng sơ cấp trong nước lớn hơn nhu cầu sử dụng và nước ta có khả năng xuất khẩu năng lượng. Nhưng sau năm 2012, nước ta sẽ thiếu hụt năng lượng và phải nhập khẩu. Lượng nhập khẩu năm 2015 khoảng 6,27 triệu TOE, năm 2020 khoảng 24,9 triệu TOE, năm 2030 tăng lên khoảng 62,8 triệu TOE. Nếu không phát hiện các nguồn năng lượng mới để cân đối cung cầu năng lượng thì tỷ lệ phụ thuộc vào nước ngoài ở thời điểm 2020 và 2030 sẽ là 28,2% và 32,3%.

Để giảm bớt sự phụ thuộc năng lượng vào bên ngoài càng sớm càng tốt, Chính phủ cần quyết định chủ trương và có chính sách phát triển và sử dụng các dạng nhiên liệu sạch như thủy năng, năng lượng nguyên tử, đặc biệt là các dạng năng lượng tái tạo được như NL mặt trời, NL gió, NL sinh học.

Một số đề xuất về chương trình phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020:

Mục tiêu lâu dài là từng bước phát triển, hình thành công nghiệp pha chế nhiên liệu sinh học. Phấn đấu đến năm 2020 - 2025 sản xuất được 4,5 - 5,0 triệu tấn (xăng, điêzen pha etanol và điêzen sinh học), chiếm 20% nhu cầu xăng dầu. Với doanh thu khoảng 1,5 - 1,7 tỷ USD, thay thế được 90 - 100% lượng xăng/ điêzen thiếu hụt.

Mục tiêu trước mắt là pha chế thử nghiệm đánh giá kỹ thuật, kinh tế và môi trường để trước năm 2010 sử dụng thử xăng/ điêzen pha 10% etanol ở một vài đô thị đông dân cư với số lượng 300.000 - 400.000 tấn/ năm.

để có thể thực thi Chương trình pha chế nhiên liệu sinh học ở quy mô công nghiệp cần phải có quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu để sản xuất etanol. Để có đủ nguyên liệu pha chế được 400.000 - 1.500.000 tấn nhiên liệu sinh học, trong giai đoạn 2005 - 2010 cần trên 31.000 tấn etanol (95 -99%) và 4.000 tấn dầu thực vật vào năm 2007 hoặc 115.000 tấn etanol và 15.000 tấn dầu thực vật vào năm 2010. Giai đoạn 2011 - 2020, với lượng nhiên liệu pha chế là 3.000.000 - 4.900.000 tấn sẽ cần khoảng 230.000 tấn etanol và 30.000 tấn dầu thực vật vào năm 2015 và 377.000 tấn etanol và gần 50.000 tấn dầu thực vật vào năm 2020.

Hiện nay, công suất sản xuất cồn etanol cả nước mới khoảng trên 50 triệu lít, lượng mật rỉ đường hiện nay có thể sản xuất trên 100 triệu lít cồn. Nếu chương trình nhiên liệu sinh học đến năm 2020 được Chính phủ thông qua, thì nhu cầu cồn nhiên liệu và và dầu thực vật sẽ rất lớn và đây cũng là cơ hội lớn để phát triển trồng trọt, cung cấp nguyên liệu sản xuất cồn, tạo ra doanh thu cho cả vùng nguyên liệu sản xuất cồn và nhiên liệu sinh học khoảng 1,9 tỷ USD vào năm 2020.

Để phát triển và sử dụng nhiên liệu sinh học cần phải có các chính sách về cơ chế, chủ trương. Yếu tố thành công về sự phát triển và sử dụng nhiên liệu sinh học phụ thuộc vào chủ trương của Chính phủ và nhận thức của cộng đồng về các lợi ích kinh tế, xã hội khi sử dụng nhiên liệu sinh học. Đây là sự lựa chọn có tính khả thi về chính sách an ninh quốc gia lâu dài.

HỒNG LIÊN (Theo tài liệu Hội thảo của Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam)


0 Comments:

Post a Comment

<< Home